Showing posts with label SỨC KHỎE. Show all posts
Showing posts with label SỨC KHỎE. Show all posts

1/31/17

Bệnh cảm cúm ở trẻ em


Thông thường chúng ta ít khi chú ý đến một số triệu chứng như hắt hơi nhẹ hoặc chảy nước mũi của trẻ. Nhưng nếu xem những biểu hiện này là triệu chứng của cảm thì số lần bị cảm của mỗi đứa trẻ bình quân khoảng 6 lần/năm.


   Trong trường hợp nào dễ bị lây truyền cảm cúm?
   Thông thường cảm thường kéo dài 6-14 ngày, 3 ngày đầu dễ lây nhất nhưng sau khỏi 2 tuần vẫn có thể lây bệnh cho người khác. Vì thế trẻ con rất dễ bị cảm cúm.
   Nếu một đứa trẻ bị cảm cúm và có biểu hiện là chảy nước mũi thì có thể trẻ sẽ không chú ý, thông thường thì trẻ thích dùng tay ngoáy mũi, cứ như thế, vi khuẩn hoặc virus sẽ di chuyển đến tay, quần áo, đồ chơi của trẻ, đồng thời có thể tồn tại trong vòng 30 phút. Và khi những đứa trẻ khác chạm hay chơi những đồ chơi này, sau đó lại dùng tay sờ mũi, dụi mắt và như thế sẽ bị lây nhiễm.
   Nhưng trẻ em mỗi lần bị cảm thì cơ thể và khả năng chiến đấu chống lại vi khuẩn virus của trẻ sẽ mạnh hơn. Cứ như thế cho tới lúc học tiểu học, số lần bị nhiễm cảm của trẻ sẽ giảm đi.
   Thực phẩm phòng cảm cúm
   Trẻ em sau khi sinh trong vòng 3 tháng tuổi, mỗi khi xuất hiện triệu chứng cảm thì nên đưa trẻ đi khám bác sỹ. Khi trẻ bắt đầu ăn dặm hoặc lớn hơn thì chúng ta có thể xây dựng cho trẻ một “vành đai bảo vệ” từ thức ăn để hạn chế lây nhiễm cảm cho trẻ.
1. Nên ăn nhiều thực phẩm có tính kiềm
   Môi trường kiềm trong cơ thể không có lợi cho virus sinh trưởng và phát triển. Điều này có nghĩa là nếu cơ thể giữ được ở trong môi trường kiềm thì virus cảm không thể “thừa cơ chen vào”. Vì vậy nên cho trẻ ăn nhiều thực phẩm có tính kiềm, từ đó thay đổi môi trường bên trong cơ thể, nâng cao sức đề kháng là một trong những biện pháp tốt nhất để đối kháng với virus.
   Thực phẩm có chứa nhiều kiềm bao gồm táo, nho, cà chua, cà rốt, rong biển…
2. Ăn nhiều thực phẩm chứa vitamin A
   Vitamin A có thể ổn định màng tế bào da trên cơ thể, tăng cường chức năng hệ thống miễn dịch. Khi cơ thể thiếu vitamin A, khả năng chống lại virus của các tế bào cũng giảm đi, chức năng bảo vệ niêm mạc đường hô hấp cũng theo đó yếu đi, một khi bị virus, vi khuẩn tấn công thì rất dễ bị viêm nhiễm đường hô hấp.
   Các loại rau quả màu đỏ thường giàu vitamin A.
3. Ăn nhiều thực phẩm chứa vitamin C
   Vitamin C có công dụng tăng cường thể lực và phòng chống virus lây nhiễm. Vitamin C hỗ trợ sự hình thành kháng thể, tăng cường sức đề kháng toàn diện cho cơ thể. Vitamin C còn có thể đẩy các chất có hại ra ngoài tế bào bạch huyết, phục hồi các tế bào bị thương tổn.
   Lúc bị cảm hoặc bị sốt, nồng độ vitamin C trong tế bào bạch huyết sẽ giảm thấp, vì vậy nên chú ý bổ sung thêm những thức ăn hàm chứa vitamin C.
   Thực phẩm chứa nhiều vitamin C bao gồm: cam, quýt, lê, dâu tây, rau cần, ớt xanh....
4. Ăn nhiều thực phẩm chứa Kẽm
   Kẽm có thể trực tiếp khống chế sự sinh sôi nảy nở của virus cảm, đồng thời tăng cường khả năng đề kháng cho cơ thể, được đặt cho biệt danh “ khắc tinh của virus”.

   Thực phẩm chứa kẽm bao gồm: con hàu, thịt nạc, gan lợn, các loại cá, lòng đỏ trứng…

Bệnh hen ở trẻ em


     Trẻ em có một chế độ dinh dưỡng giàu hoa quả và rau củ cũng như ăn nhiều cá có thể giảm được nguy cơ mắc bệnh hen và khò khè. Để có kết luận này, các nhà khoa học thuộc Đại học Ulm (Đức) đã xem xét dữ liệu ở 50.000 trẻ em từ 8-12 tuổi tại 20 quốc gia khác nhau, theo báo Independent.



   Theo các nhà nghiên cứu, hoa quả và rau củ có nhiều chất chống ô-xy hóa, qua đó giúp giảm nguy cơ bị hen và thở khò khè. Ngoài ra, đây còn là nguồn giúp bổ sung cho cơ thể carotenoid, vitamin C và E, vốn rất tốt cho chức năng phổi. Nghiên cứu còn cho thấy ăn từ 3 chiếc bánh mì kẹp thịt (hamburger) trở lên mỗi tuần có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh hen.
    Trẻ suyễn có nên kiêng ăn?
    Khi trẻ lên cơn suyễn, không nên cho trẻ ăn bất kì loại thực phẩm nào để tránh trẻ bị sặc. Ngoài ra, nên bù nước đặc biệt là đối với trẻ nhỏ. Để hạn chế trẻ bị suy dinh dưỡng, cha mẹ cần lưu ý cho trẻ ăn nhiều bữa và thực phẩm chứa nhiều chất béo. Kiêng cữ tất cả các loại thức ăn gây dị ứng, tăng nguy cơ kích phát cơn hen.
    Thời tiết mùa xuân và bệnh hen ở trẻ
   Chăm sóc sức khỏe cho người bình thường đã khó, dinh dưỡng hợp lý lại là một việc khó hơn, đặc biệt là đối với trẻ bị suyễn.
   Suyễn là một bệnh mãn tính nên vấn đề dinh dưỡng phải thay đổi sao cho phù hợp với lúc không bệnh, lúc lên cơn. Dựa vào đặc điểm của bệnh: dễ kích ứng với môi trường (bụi, không khí…), khởi phát không báo trước (khó thở, thở nhanh)… để chúng ta có thực đơn hợp lý tránh suy dinh dưỡng lẫn béo phì cho trẻ.
   Đối với trẻ, lúc không bệnh (chưa có những đợt kích phát) nên có chế độ ăn theo lứa tuổi. Trong giai đoạn trẻ sơ sinh (nhỏ hơn 6 tháng tuổi) thì sữa mẹ vẫn là tốt nhất. Tuy nhiên, vì một số lý do, người mẹ không có sữa hoặc trẻ không chịu bú thì cũng nên linh hoạt cho trẻ dùng sữa thay thế (khoảng 150mg/kg/ngày). Những loại thực phẩm cho trẻ ăn dặm như bột, cháo, ya-out cũng cần kết hợp với sữa để trẻ không bị suy dinh dưỡng hoặc béo phì.
   Bốn nhóm thực phẩm cần thiết: bột đường, sữa đạm, dầu ăn chất béo, rau quả phải được kết hợp trong một bữa ăn với số lượng một/một. Một chén cháo hoặc bột ít nhất cần đảm bảo bốn nhóm thực phẩm kể trên với một muỗng canh thịt bằm nhuyễn, một muỗng canh dầu ăn và một muỗng canh rau xắt hạt lựu.
   Việc kiêng cữ thức ăn ảnh hưởng ít nhiều bởi yếu tố dị ứng di truyền từ bố, mẹ, anh, chị em, người thân trong gia đình. Qua thực tế, những trường hợp ghi nhận được thì thức ăn dễ gây dị ứng gồm: trứng, các loại hạt (đậu phộng), hải sản, lúa mì, rượu đỏ; những thực phẩm sinh lưu huỳnh như coca, thức ăn chiên bằng dầu ăn đã sử dụng trước đó…
   Để giảm nguy cơ mắc suyễn các bà mẹ có trẻ ít nguy cơ dị ứng nên cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, không cho ăn dặm sớm trước 6 tháng tuổi, ăn ít muối. Đối với trẻ có nguy cơ dị ứng cao (có người thân bị dị ứng) cần kiêng cữ những thực phẩm dị ứng gây suyễn, hạn chế thức ăn mới, bú bình…
   Mùa xuân, thời tiết miền Bắc nước ta thay đổi bất thường, đang ấm chuyển lạnh đột ngột, sau đợt gió mùa đông bắc thường có những đợt gió nồm, mưa phùn ẩm ướt, không khí bão hòa hơi nước tạo điều kiện thuận lợi cho các cơn hen xuất hiện.
   Các viêm nhiễm đường hô hấp trên, nhất là VA và amiđan bị nhiễm khuẩn cũng là những gai kích thích gây cơn hen ở trẻ em.
   Trẻ bị hen ở thể điển hình rất dễ biết, nhất là đối với những trẻ lớn. Thường cơn hen xảy ra về đêm, gần sáng. Trong cơn hen trẻ rất khó thở, nét mặt lo âu, hơi tím tái, vã mồ hôi, thở cò cử… Mỗi cơn hen kéo dài khoảng một giờ, sau đó trẻ ho, khạc ra nhiều đờm trắng dính.
   Ngoài thể điển hình nói trên, còn thường gặp những thể không điển hình, có những trường hợp nguy kịch, nhưng cũng có những trường hợp rất nhẹ chỉ biểu hiện như viêm đường hô hấp trên, có tiếng cò cử, thường xuất hiện vào những lúc thay đổi thời tiết, không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe.
   Trẻ càng nhỏ (từ 1 đến 3 tuổi) hen càng nặng, các trẻ lớn bệnh nhẹ hơn. Trẻ có thể bị hen ngay từ khi còn bú (nhân dân ta vẫn gọi là “hen sữa”), nhưng cũng có những cháu đã lớn khoảng 8 – 9 tuổi mới mắc bệnh.
   Về điều trị, các thuốc chữa bệnh hen hiện nay có nhiều, nhưng phải tuỳ theo lứa tuổi và tình hình bệnh cụ thể của trẻ mà dùng loại thuốc thích hợp. Ngoài thuốc men và các biện pháp cắt cơn hen do bác sĩ quyết định, gia đình cần chú ý tạo điều kiện thuận lợi để bệnh giảm bằng phương pháp tự nhiên, như thay đổi khí hậu; nhà ở sạch, thoáng và khô ráo; cho trẻ ăn uống thích hợp với cơ địa. Mặt khác phải chú ý điều trị các ổ viêm nhiễm ở đường hô hấp như viêm amiđan, viêm VA để giải quyết những gai kích thích.

 Các bước rửa tay chuẩn WHO


     Bước 1: Làm ướt 2 bàn tay dưới vòi nước sạch, lấy xà phòng, xoa 2 bàn tay lại với nhau để tạo bọt.


     Bước 2: Dùng ngón tay và lòng bàn tay này cuốn và xoay lần lượt các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại.


     Bước 3: Dùng lòng bàn tay này chà sát chéo mu bàn tay kia và ngược lại.


     Bước 4Dùng đầu ngón tay  lòng bàn tay này miết vào kẽ giữa các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại.


     Bước 5: Chụm 5 đầu ngón tay của tay này cọ vào lòng bàn tay kia bằng cách xoay đi, xoay lại.



     Bước 6: Xả sạch xà phòng dưới vòi nước sạch, lau khô tay bằng khăn hoặc giấy sạch. 

     
     Các bé nhớ rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn nhé!

Khi nào nên đưa con đi bác sĩ?


Nếu bé nhà bạn gặp phải một trong những biểu hiện dưới đây, bạn nên theo dõi và đưa con đến gặp bác sĩ ngay nhé!


1-Nôn ói
 Sau khi ói xong, tốt nhất là đợi 1h sau hãy cho trẻ uống thứ gì khác. Sau đó cho con một vài ngụm nước có ga. Sau 15’ tiếp tục cho ăn thức ăn dạng lỏng như cháo. Khi những giải pháp này không hiệu quả trẻ có thể bị mất nước. Nếu ói liên tục hơn 24h nên đi bác sĩ. Nếu chỉ có ói và sốt có thể là tín hiệu của nhiễm trùng đường tiểu, viêm họng hay viêm ruột thừa.

2-Mất nước
Mất nước rất nguy hiểm, trẻ bị ói và tiêu chảy sẽ bị mất nước nhanh. Nếu trẻ bị mắc thêm bệnh đau họng thì càng không uống được nước nên càng mất nước nhiều hơn. Nên bù nước cho trẻ bằng các loại nước trái cây, nước lọc…Dấu hiệu mất nước là tiểu ít hơn 3 lần 1 ngày, nhức đầu, ngủ lịm, thóp đầu bị lõm, môi hay lưỡi bị khô. Bất kỳ triệu chứng nào sau đây đều cần đến gặp bác sĩ.

3-Sốt
Sốt hơn 380C đối với trẻ dưới 6 tuần tuổi thì không được xem thường. Đối với trẻ 6 tuần tuổi, sốt thường là biểu hiện của việc chống lại nhiễm trùng. Sốt cao thật sự không phải lúc nào cũng nghiêm trọng, mà cách trẻ thể hiện ra bên ngoài mới quan trọng. Nếu uống thuốc giảm sốt rồi mà trẻ vẫn khó chịu, khóc rên rỉ hay hôn mê một tiếng đồng hồ hoặc nếu sốt liên tục hơn 3 ngày thì phải đi bác sĩ.


4-Khó thở
Có nhiều nguyên nhân làm trẻ khó thở. Chỉ cần sốt cao là trẻ thở nhanh. Nếu dùng thuốc giảm sốt, nhịp thở trở lại bình thường thì không sao nhưng nếu thở nhanh mà không sốt thì phải đi bác sĩ liền. Thở khò khè là biểu hiện của bệnh thanh quản, hen suyễn hoặc trẻ đã nuốt vật thể lạ. Bệnh thanh quản thì hay có tiếng thở khò khè, đôi khi kèm ho gây khó chịu vào ban đêm. Ra ngoài không khí mát hay xông hơi ấm giúp cải thiện hơi thở khò khè. Nếu những can thiệp này không khá hơn thì gọi bác sĩ. Nếu trẻ nuốt thức ăn cứng, làm nghẹt thở và ho, có thể miếng thức ăn mắc vào phổi, cần phải mổ để lấy ra.

5-Ngủ nhiều, hôn mê, co giật
- Đau đầu hay sốt.
- Bị thương ở đầu. 4h sau khi tai nạn xảy ra là thời gian vô cùng quan trọng. Nhiều trẻ đờ đẫn do đau đầu, có khi còn ói mửa. Tốt nhất là để cho trẻ ngủ nhưng 30’ sau phải đánh thức dậy. Làm vậy trong mỗi 4 tiếng để chắc rằng trẻ tỉnh táo. Nếu trẻ mất tỉnh táo, co giật, biểu hiện không bình thường, hay ói liên tục phải đi bác sĩ.
- Ngộ độc thuốc hay thực phẩm.


6-Đau bụng
Có nhiều nguyên nhân gây đau bụng như táo bón, khó tiêu, đau dạ dày. Lúc nào không thèm ăn, đau kéo dài, ói xanh đặc hay ra máu thì nên đi bác sĩ.

7-Đi tiêu ra máu
Nên đem mẫu phân đến phòng khám bác sĩ để xét nghiệm. Nói với bác sĩ nếu con bạn vừa ăn thức ăn có màu đỏ vì đó có thể nó giống màu máu trong phân. Nguyên nhân chảy máu có thể là do rách trực tràng hay xuất huyết, cả hai đều do táo bón. Dù chảy máu nhẹ, nhiều căn bệnh trầm trọng cần được loại trừ.

8-Đi khập khiễng
Vì trẻ hay vận động và cố làm nhiều trò chơi mới nên hay bị như vậy. nếu khập khiễng sau khi bị thương nhẹ và không bị sưng to thâm tím thì có thể chữa ở nhà bằng cách chườm đá. Nếu vết thương không cải thiện, khớp sưng đỏ hoặc khó đi sau 48h thì đi bác sĩ. 
 

Mầm non Template by Ipietoon Cute Blog Design