1/31/17

Bệnh hen ở trẻ em


     Trẻ em có một chế độ dinh dưỡng giàu hoa quả và rau củ cũng như ăn nhiều cá có thể giảm được nguy cơ mắc bệnh hen và khò khè. Để có kết luận này, các nhà khoa học thuộc Đại học Ulm (Đức) đã xem xét dữ liệu ở 50.000 trẻ em từ 8-12 tuổi tại 20 quốc gia khác nhau, theo báo Independent.



   Theo các nhà nghiên cứu, hoa quả và rau củ có nhiều chất chống ô-xy hóa, qua đó giúp giảm nguy cơ bị hen và thở khò khè. Ngoài ra, đây còn là nguồn giúp bổ sung cho cơ thể carotenoid, vitamin C và E, vốn rất tốt cho chức năng phổi. Nghiên cứu còn cho thấy ăn từ 3 chiếc bánh mì kẹp thịt (hamburger) trở lên mỗi tuần có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh hen.
    Trẻ suyễn có nên kiêng ăn?
    Khi trẻ lên cơn suyễn, không nên cho trẻ ăn bất kì loại thực phẩm nào để tránh trẻ bị sặc. Ngoài ra, nên bù nước đặc biệt là đối với trẻ nhỏ. Để hạn chế trẻ bị suy dinh dưỡng, cha mẹ cần lưu ý cho trẻ ăn nhiều bữa và thực phẩm chứa nhiều chất béo. Kiêng cữ tất cả các loại thức ăn gây dị ứng, tăng nguy cơ kích phát cơn hen.
    Thời tiết mùa xuân và bệnh hen ở trẻ
   Chăm sóc sức khỏe cho người bình thường đã khó, dinh dưỡng hợp lý lại là một việc khó hơn, đặc biệt là đối với trẻ bị suyễn.
   Suyễn là một bệnh mãn tính nên vấn đề dinh dưỡng phải thay đổi sao cho phù hợp với lúc không bệnh, lúc lên cơn. Dựa vào đặc điểm của bệnh: dễ kích ứng với môi trường (bụi, không khí…), khởi phát không báo trước (khó thở, thở nhanh)… để chúng ta có thực đơn hợp lý tránh suy dinh dưỡng lẫn béo phì cho trẻ.
   Đối với trẻ, lúc không bệnh (chưa có những đợt kích phát) nên có chế độ ăn theo lứa tuổi. Trong giai đoạn trẻ sơ sinh (nhỏ hơn 6 tháng tuổi) thì sữa mẹ vẫn là tốt nhất. Tuy nhiên, vì một số lý do, người mẹ không có sữa hoặc trẻ không chịu bú thì cũng nên linh hoạt cho trẻ dùng sữa thay thế (khoảng 150mg/kg/ngày). Những loại thực phẩm cho trẻ ăn dặm như bột, cháo, ya-out cũng cần kết hợp với sữa để trẻ không bị suy dinh dưỡng hoặc béo phì.
   Bốn nhóm thực phẩm cần thiết: bột đường, sữa đạm, dầu ăn chất béo, rau quả phải được kết hợp trong một bữa ăn với số lượng một/một. Một chén cháo hoặc bột ít nhất cần đảm bảo bốn nhóm thực phẩm kể trên với một muỗng canh thịt bằm nhuyễn, một muỗng canh dầu ăn và một muỗng canh rau xắt hạt lựu.
   Việc kiêng cữ thức ăn ảnh hưởng ít nhiều bởi yếu tố dị ứng di truyền từ bố, mẹ, anh, chị em, người thân trong gia đình. Qua thực tế, những trường hợp ghi nhận được thì thức ăn dễ gây dị ứng gồm: trứng, các loại hạt (đậu phộng), hải sản, lúa mì, rượu đỏ; những thực phẩm sinh lưu huỳnh như coca, thức ăn chiên bằng dầu ăn đã sử dụng trước đó…
   Để giảm nguy cơ mắc suyễn các bà mẹ có trẻ ít nguy cơ dị ứng nên cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, không cho ăn dặm sớm trước 6 tháng tuổi, ăn ít muối. Đối với trẻ có nguy cơ dị ứng cao (có người thân bị dị ứng) cần kiêng cữ những thực phẩm dị ứng gây suyễn, hạn chế thức ăn mới, bú bình…
   Mùa xuân, thời tiết miền Bắc nước ta thay đổi bất thường, đang ấm chuyển lạnh đột ngột, sau đợt gió mùa đông bắc thường có những đợt gió nồm, mưa phùn ẩm ướt, không khí bão hòa hơi nước tạo điều kiện thuận lợi cho các cơn hen xuất hiện.
   Các viêm nhiễm đường hô hấp trên, nhất là VA và amiđan bị nhiễm khuẩn cũng là những gai kích thích gây cơn hen ở trẻ em.
   Trẻ bị hen ở thể điển hình rất dễ biết, nhất là đối với những trẻ lớn. Thường cơn hen xảy ra về đêm, gần sáng. Trong cơn hen trẻ rất khó thở, nét mặt lo âu, hơi tím tái, vã mồ hôi, thở cò cử… Mỗi cơn hen kéo dài khoảng một giờ, sau đó trẻ ho, khạc ra nhiều đờm trắng dính.
   Ngoài thể điển hình nói trên, còn thường gặp những thể không điển hình, có những trường hợp nguy kịch, nhưng cũng có những trường hợp rất nhẹ chỉ biểu hiện như viêm đường hô hấp trên, có tiếng cò cử, thường xuất hiện vào những lúc thay đổi thời tiết, không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe.
   Trẻ càng nhỏ (từ 1 đến 3 tuổi) hen càng nặng, các trẻ lớn bệnh nhẹ hơn. Trẻ có thể bị hen ngay từ khi còn bú (nhân dân ta vẫn gọi là “hen sữa”), nhưng cũng có những cháu đã lớn khoảng 8 – 9 tuổi mới mắc bệnh.
   Về điều trị, các thuốc chữa bệnh hen hiện nay có nhiều, nhưng phải tuỳ theo lứa tuổi và tình hình bệnh cụ thể của trẻ mà dùng loại thuốc thích hợp. Ngoài thuốc men và các biện pháp cắt cơn hen do bác sĩ quyết định, gia đình cần chú ý tạo điều kiện thuận lợi để bệnh giảm bằng phương pháp tự nhiên, như thay đổi khí hậu; nhà ở sạch, thoáng và khô ráo; cho trẻ ăn uống thích hợp với cơ địa. Mặt khác phải chú ý điều trị các ổ viêm nhiễm ở đường hô hấp như viêm amiđan, viêm VA để giải quyết những gai kích thích.

 Các bước rửa tay chuẩn WHO


     Bước 1: Làm ướt 2 bàn tay dưới vòi nước sạch, lấy xà phòng, xoa 2 bàn tay lại với nhau để tạo bọt.


     Bước 2: Dùng ngón tay và lòng bàn tay này cuốn và xoay lần lượt các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại.


     Bước 3: Dùng lòng bàn tay này chà sát chéo mu bàn tay kia và ngược lại.


     Bước 4: Dùng đầu ngón tay và lòng bàn tay này miết vào kẽ giữa các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại.


     Bước 5: Chụm 5 đầu ngón tay của tay này cọ vào lòng bàn tay kia bằng cách xoay đi, xoay lại.



     Bước 6: Xả sạch xà phòng dưới vòi nước sạch, lau khô tay bằng khăn hoặc giấy sạch. 

     
     Các bé nhớ rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn nhé!

Trang trí các góc mầm non


      Trong lớp học dành cho trẻ mẫu giáo, ngoài 5 góc chính: góc học tập, góc nghệ thuật, góc thiên nhiên, góc xây dựng, góc phân vai (Chúng ta có thể đặt cho 5 góc này bằng những cái tên hoa mĩ hơn, VD: góc phân vai có thể đặt: Bé chọn vai nào...)  còn có những mảng dành cho phụ huynh, mảng điểm danh, sinh nhật bé, bé ngoan của lớp, mảng trưng bày sản phẩm tạo hình của bé. Tất cả đều phải trang trí phù hợp, bắt mắt...
Dưới đây là một số hình ảnh trang trí lớp học mầm non.

Điểm danh (Có thể đặt: Bé ơi! Hãy đến lớp, Hôm nay ai đến lớp?, Bé đến lớp chưa? Bé vui đến lớp...)







Bảng bé ngoan (Có thể đặt: Bé ngoan của lớp, Hoa bé ngoan...)








Sinh nhật hồng, mừng bé thêm tuổi mới...




Sản phẩm của bé (Trưng bày tranh bé vẽ trong hoạt động tạo hình, hoạt động vui chơi).




Góc học tập
+ Thời tiết hôm nay
+ Một ngày của bé
+ Bé vui học toán
+ Ong non tìm chữ
+ Vườn cổ tích
+ Bé tìm hiểu
+ Đố bé chữ gì?

















Góc nghệ thuật (Có thể đặt: Ca sĩ nhí, họa sĩ tí hon,...)




Góc phân vai (Có thể đặt: Bé chọn vai nào?...)
+ Đối với trẻ lớp Lá, trong góc này còn có thêm một góc nhỏ: Bé tập làm nội trợ.




 Góc xây dựng (Có thể đặt: Bé làm bao nhiêu nghề,...)




Góc thiên nhiên (Có thể đặt: Bé khám phá,...)

Mảng dành cho phụ huynh (Còn gọi là bảng tuyên truyền)







Khi nào nên đưa con đi bác sĩ?


Nếu bé nhà bạn gặp phải một trong những biểu hiện dưới đây, bạn nên theo dõi và đưa con đến gặp bác sĩ ngay nhé!


1-Nôn ói
 Sau khi ói xong, tốt nhất là đợi 1h sau hãy cho trẻ uống thứ gì khác. Sau đó cho con một vài ngụm nước có ga. Sau 15’ tiếp tục cho ăn thức ăn dạng lỏng như cháo. Khi những giải pháp này không hiệu quả trẻ có thể bị mất nước. Nếu ói liên tục hơn 24h nên đi bác sĩ. Nếu chỉ có ói và sốt có thể là tín hiệu của nhiễm trùng đường tiểu, viêm họng hay viêm ruột thừa.

2-Mất nước
Mất nước rất nguy hiểm, trẻ bị ói và tiêu chảy sẽ bị mất nước nhanh. Nếu trẻ bị mắc thêm bệnh đau họng thì càng không uống được nước nên càng mất nước nhiều hơn. Nên bù nước cho trẻ bằng các loại nước trái cây, nước lọc…Dấu hiệu mất nước là tiểu ít hơn 3 lần 1 ngày, nhức đầu, ngủ lịm, thóp đầu bị lõm, môi hay lưỡi bị khô. Bất kỳ triệu chứng nào sau đây đều cần đến gặp bác sĩ.

3-Sốt
Sốt hơn 380C đối với trẻ dưới 6 tuần tuổi thì không được xem thường. Đối với trẻ 6 tuần tuổi, sốt thường là biểu hiện của việc chống lại nhiễm trùng. Sốt cao thật sự không phải lúc nào cũng nghiêm trọng, mà cách trẻ thể hiện ra bên ngoài mới quan trọng. Nếu uống thuốc giảm sốt rồi mà trẻ vẫn khó chịu, khóc rên rỉ hay hôn mê một tiếng đồng hồ hoặc nếu sốt liên tục hơn 3 ngày thì phải đi bác sĩ.


4-Khó thở
Có nhiều nguyên nhân làm trẻ khó thở. Chỉ cần sốt cao là trẻ thở nhanh. Nếu dùng thuốc giảm sốt, nhịp thở trở lại bình thường thì không sao nhưng nếu thở nhanh mà không sốt thì phải đi bác sĩ liền. Thở khò khè là biểu hiện của bệnh thanh quản, hen suyễn hoặc trẻ đã nuốt vật thể lạ. Bệnh thanh quản thì hay có tiếng thở khò khè, đôi khi kèm ho gây khó chịu vào ban đêm. Ra ngoài không khí mát hay xông hơi ấm giúp cải thiện hơi thở khò khè. Nếu những can thiệp này không khá hơn thì gọi bác sĩ. Nếu trẻ nuốt thức ăn cứng, làm nghẹt thở và ho, có thể miếng thức ăn mắc vào phổi, cần phải mổ để lấy ra.

5-Ngủ nhiều, hôn mê, co giật
- Đau đầu hay sốt.
- Bị thương ở đầu. 4h sau khi tai nạn xảy ra là thời gian vô cùng quan trọng. Nhiều trẻ đờ đẫn do đau đầu, có khi còn ói mửa. Tốt nhất là để cho trẻ ngủ nhưng 30’ sau phải đánh thức dậy. Làm vậy trong mỗi 4 tiếng để chắc rằng trẻ tỉnh táo. Nếu trẻ mất tỉnh táo, co giật, biểu hiện không bình thường, hay ói liên tục phải đi bác sĩ.
- Ngộ độc thuốc hay thực phẩm.


6-Đau bụng
Có nhiều nguyên nhân gây đau bụng như táo bón, khó tiêu, đau dạ dày. Lúc nào không thèm ăn, đau kéo dài, ói xanh đặc hay ra máu thì nên đi bác sĩ.

7-Đi tiêu ra máu
Nên đem mẫu phân đến phòng khám bác sĩ để xét nghiệm. Nói với bác sĩ nếu con bạn vừa ăn thức ăn có màu đỏ vì đó có thể nó giống màu máu trong phân. Nguyên nhân chảy máu có thể là do rách trực tràng hay xuất huyết, cả hai đều do táo bón. Dù chảy máu nhẹ, nhiều căn bệnh trầm trọng cần được loại trừ.

8-Đi khập khiễng
Vì trẻ hay vận động và cố làm nhiều trò chơi mới nên hay bị như vậy. nếu khập khiễng sau khi bị thương nhẹ và không bị sưng to thâm tím thì có thể chữa ở nhà bằng cách chườm đá. Nếu vết thương không cải thiện, khớp sưng đỏ hoặc khó đi sau 48h thì đi bác sĩ. 

Đề thi giáo viên giỏi mầm non (Đề 1)


* GIÁO DỤC: (5 CÂU)
Câu 1:  Hãy điền bổ sung vào ô trống những nội dung chính của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
a. Xây dựng trường, lớp xanh, sạch đẹp, an toàn.
b. Dạy học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh ở mỗi địa phương, giúp các em tự tin trong học tập.
c. Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.
d. Tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh.
e. Học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hoá, cách mạng ở địa phương.
Câu  2:  Nội dung giáo dục trẻ nhà trẻ lĩnh vực phát triển thể chất phần phát triển vận động có mấy nội dung?
  a.  Làm quen với một số việc tự phục vụ, giữ gìn sức khoẻ. Tập các vận động cơ bản và phát triển tố chất vận động ban đầu. Tập động tác phát triển các nhóm cơ và hô hấp. Tập các cử động của bàn tay, ngón tay và phối hợp tay - mắt.
      b.  Tập các vận động cơ bản và phát triển tố chất vận động ban đầu. Tập động tác phát triển các nhóm cơ và hô hấp. Tập các cử động của bàn tay, ngón tay và phối hợp tay - mắt.
      c.  Tập các vận động cơ bản và phát triển tố chất vận động ban đầu. Tập luyện nền nếp, thói quen tốt trong sinh hoạt. Tập động tác phát triển các nhóm cơ và hô hấp. Tập các cử động của bàn tay, ngón tay và phối hợp tay - mắt.
      d.  Tập các vận động cơ bản và phát triển tố chất vận động ban đầu. Tập luyện nền nếp, thói quen tốt trong sinh hoạt. Tập động tác phát triển các nhóm cơ và hô hấp. Tập các cử động của bàn tay, ngón tay và phối hợp tay - mắt. Nhận biết và tránh một số nguy cơ không an toàn. 
Câu  3:  Rửa tay bằng xà phòng thực hiện qua các bước:
a. Rửa tay sạch, dùng bàn tay này chà mu bàn tay kia, kẽ ngón tay, từng ngón tay cổ tay, rửa lại nước sạch.
b. Làm ướt tay bằng nước sạch, xoa xà bông vào lòng bàn tay và chà xát, dùng ngón tay và lòng bàn tay cuốn và xoay tròn từng ngón bàn tay kia và ngược lại, bàn tay này chà xát lên cổ tay, mu bàn tay kia và ngược lại, dùng ngón tay của bàn tay kia miết từng kẻ ngón tay và ngược lại, chụm đầu 5 ngón tay này cọ và xoay tròn vào bàn tay kia và ngược lại, rửa lại bằng nước sạch và lau khô.
c. Làm ướt bàn tay, rửa xà phòng, dùng bàn tay này chà  từng kẻ ngón tay kia và ngược lại, bàn tay này chà xát cổ tay, mu bàn  tay kia và ngược lại, chụm đầu 5 ngón tay này cọ và xoay tròn vào lòng bàn tay và ngược lại, rửa sạch bằng nước sạch lau khô tay.
d. Cả 3 câu trên đều đúng.
Câu 4:  Nội dung giáo dục tuổi mẫu giáo lĩnh vực phát triển nhận thức gồm các nội dung nào?
a. Khám phá khoa học. Làm quen với một số khái niệm sơ đẳng về toán. Khám phá xã hội.
      b. Khám phá khoa học. Làm quen với một số khái niệm sơ đẳng về toán. Khám phá xã hội. Một số nghề trong xã hội.
      c. Khám phá khoa học các bộ phận con người. Làm quen với một số khái niệm sơ đẳng về toán. Khám phá xã hội. Một số nghề trong xã hội.
      d. Khám phá khoa học các bộ phận con người. Làm quen với một số khái niệm sơ đẳng về toán tập hợp số lượng, số thứ tự và đếm. Khám phá xã hội. Một số nghề trong xã hội. 
Câu 5:  Nội dung giáo dục tuổi mẫu giáo lĩnh vực phát triển thẩm mĩ gồm các nội dung nào?
      a.  Cảm nhận và thể hiện cảm xúc trước vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống gần gũi xung quanh trẻ và trong các tác phẩm nghệ thuật.
      b.  Một số kỹ năng trong hoạt động  âm nhạc (nghe, hát, vận động theo nhạc) và hoạt động tạo hình (vẽ, nặn, cắt, xé dán, xếp hình).
      c.  Thể hiện sự sáng tạo khi tham gia các hoạt động nghệ thuật (âm nhạc, tạo hình).
      d.  Cả 3 câu trên đều đúng.
* NUÔI DƯỠNG: 5 CÂU
1) Lưu mẫu thức ăn để làm gì?
a) Để xét nghiệm hàng ngày xem chế biến có tốt không.
b) Để phục vụ cho quá trình điều tra nếu xảy ra ngộ độc thực phẩm.
c) Để kiểm tra một xuất ăn thiếu hay đủ.
2) Thời gian lưu mẫu là bao lâu?
a. Đủ thời gian lưu mẫu là 8 giờ.
b. Đủ thời gian lưu mẫu là 16 giờ.
c. Đủ thời gian lưu mẫu là 24 giờ.
3)  Sử dụng dụng cụ cho thực phẩm sống riêng, thực phẩm chín riêng nhằm mục đích gì?   
a.   Để khi ăn không có mùi vị lạ do thực phẩm sống trộn lẫn vào.
b.  Để không lan truyền các mầm bệnh từ thực phẩm sống sang thực phẩm chín.
c.    Để thực phẩm chín giữ được lâu.      
4)  Nhân viên nhà bếp phải rửa tay khi nào?
a. Rửa tay sau khi: Đi vệ sinh, tiếp xúc với thực phẩm sống, chạm tay vào rác, sau mỗi lần nghỉ.
b. Rửa tay trước khi chế biến, tiếp xúc với thực phẩm, chia thức ăn cho trẻ
c. Câu a đúng.
d. Cả a và b đúng.        
5)  Nguyên tắc bếp ăn 1 chiều
      a. Khu vực tiếp nhận thực phẩm – Khu vực sơ chế thực phẩm - Khu vực chế biến thực phẩm-Khu vực chia suất ăn - bàn ăn.
b. Khu vực tiếp nhận thực phẩm - Khu vực chế biến thực phẩm - Khu vực sơ chế thực phẩm - Khu vực chia suất ăn - bàn ăn.
c. Câu a đúng.
d. Câu b đúng.         
e. Câu a và b đúng.

Bạn tham khảo thêm các đề thi trắc nghiệm GVG mầm non sau:



2/8/16


   Thao tác vệ sinh cho bé

 Những thao tác vệ sinh dưới đây không chỉ mang ý nghĩa quan trọng đối với các giáo viên mầm non mà với bất kỳ bà mẹ yêu con nào cũng cần "lụm" lại, "bỏ túi" để chăm sóc thật tốt cho bé yêu nhà mình nhé!

Hãy là bạn của con khi hướng dẫn trẻ thực hiện các thao tác vệ sinh

1. Lau mặt
a. Chuẩn bị
- Cô rửa tay sạch.
- Mỗi trẻ một cái khăn (dư vài cái).
- 2 chậu hoặc xô (1đựng khăn sạch – 1 đựng khăn dơ).
- Ghế cô ngồi, ghế trẻ ngồi.
b. Cách lau
- Cô ngồi ghế, chậu khăn sạch để bên phải gần cô, trẻ đứng hơi nghiêng người, tựa lưng vào đùi cô (trẻ lớn), đối với trẻ nhỏ cô bế trẻ.
- Một tay cô để đỡ phía sau đầu trẻ, tay kia cô trải khăn lên lòng bàn tay, dùng ngón tay cái và ngón tay giữa lau từng mắt trẻ, nhích khăn lên lau mũi, miệng, lau từ sống mũi đến đầu mũi bằng 2 ngón tay cái và trỏ. Phần khăn dưới vòng qua lau miệng. Gập khăn lại lau nửa mặt (từ giữa trán xuống gò má, rồi xuống nửa cằm), nửa bên kia lau tương tự. Lau cổ trước, cổ sau.
- Nếu trẻ nào dơ quá thì dùng thêm 1 khăn nữa để lau phần dơ trước.
2. Rửa tay
a. Chuẩn bị
- Thùng đựng nước rủa (kê cao 55cm).
- Chậu hoặc xô chứa nước dơ.
- Khăn lau tay khô treo gần thùng nước.
- Miếng chùi chân (trải dưới chân trẻ đứng).
- Xà phòng.
- Ghế cho cô ngồi, cô rửa tay trước khi rửa cho trẻ.
b. Cách rửa
- Cô ngồi ghế, các dụng cụ (thùng nước, xô chứa nước dơ…) để phía trước cô hơi chếch về phái bên phải, tải khô trải dưới chân trẻ đứng rửa.
- Trẻ đứng bên trái cô, tư thế thoải mái. Cô dùng ngón tay cái kỳ từ cổ tay đến mu bàn tay, kẽ ngón tay, vừa kỳ vừa vuốt. lật ngửa bàn tay kỳ và vuốt 2, 3 cái.
3. Tổ chức cho trẻ ăn
a. Chuẩn bị
- Bàn ghế để trẻ ngồi ăn.
- Ly uống nước (mỗi trẻ 1 cái).
- Khăn (mỗi trẻ 1 cái, dư vài cái).
- Yếm (nhà trẻ).
- Nước uống, chén, muỗng, dĩa đựng cơm rơi.
- Chậu đựng khăn lớn, dĩa đựng khăn nhỏ.
b. Tổ chức
- Sắp xếp bàn ghế để trẻ ngồi ăn thuận lợi, cô đi lại chia cơm dễ dàng.
- Đeo yếm cho trẻ trước khi ăn. Xếp những trẻ chưa tự xúc ăn được ngồi riêng 1 bàn để cô thuận tiện giúp trẻ ăn. Không cho trẻ ăn nóng quá hoặc nguội quá. Cô chia cơm ra từng chén, chia thức ăn ra và trộn đều (chén đầu), chén thứ 2 chan canh cho trẻ.
- Không để trẻ đợi lâu. Xếp 4 – 6 trẻ ngồi một bàn. Khi trẻ ăn, cô nhắc trẻ không được nói chuyện, ngồi ngay ngắn, trật tự, không gác chân lên bàn, không bốc thức ăn. Khi ăn nhai kỹ, không làm rơi đổ.
- Mỗi bàn ăn để một cái dĩa đựng đồ ăn rơi, một cái dĩa đựng khăn ướt lau tay, một dĩa đựng muỗng. Mỗi trẻ ăn riêng một chén một muỗng. Khi trẻ khóc hoặc buồn ngủ cô không nên ép trẻ ăn. Khăn, nước của trẻ phải để gần cô để tiện chăm sóc khi cần.
* Lưu ý: Cô phải biết xử lý tình huống khi trẻ hóc, sặc. Khi trộn cơm để chia cho trẻ không nên trộn quá nhiều. Tập cho trẻ nề nếp trong và sau khi ăn.
4. Rửa đít
a. Chuẩn bị
- Thùng kê cao 50 – 55cm.
- Chậu hứng nước dơ.
- Thùng có vòi, nối đầu ống cao su dài 60cm – 1m. 
- Ghế cô ngồi.
- Bậc cho trẻ ngồi (trẻ lớn).
- Xô, chậu đựng quần, tã dơ, xà phòng.
b. Cách rửa
- Trẻ dưới 19 tháng cô bế trẻ rửa, bế cách nào cũng được nhưng phải đảm bảo an toàn cho trẻ và cô thực hiện được kỹ thuật rửa.
- Dùng ngón tay để rửa bộ phận sinh dục và 2 bên trước, dùng 2, 3 ngón tay để rửa hậu môn.
- Đối với bé gái, cô dùng ngón cái để ngang bộ phận sinh dục và rửa từ trên xuống.
- Động viên trẻ ngồi rửa, không bắt buộc rửa bộ phận sinh dục trước. Cô dội nước từ trước ra sau hoặc từ sau ra trước. Cho trẻ đứng lên rủa lại mông.  
* Chú ý: Rửa đít cả 2 lứa tuổi, không dùng các ngón tay kéo phân về phía trước.
5. Lau nhà
a. Chuẩn bị
- 2 tải lau nhà (1 khô, 1 ẩm).
- Cán lau, chổi xẻng hốt rác.
- Xô hoặc chậu.
b. Cách lau
- Lau gần tủ, giường, bàn ghế và chỗ dơ trước, sau đó xả tải, thay nước xong mới lau toàn phòng. Lau từ trong ra ngoài, lau giật lùi không bỏ sót chỗ nào.
- Nếu lau bằng cán lau thì phải tì cán lau lên tải để lau qua lau lại cho sạch. Khi lau phải xả tải thay nước (tùy diện tích nhà để thay nước). Lau tải ẩm sau đó mới lau tải khô (nếu sàn chưa khô).
6. Lau phân, nước tiểu, ngồi bô
a. Chuẩn bị
- Mỗi trẻ một bô, nhà bô phải khô ráo, sạch.
- 2 tải (1 khô, 1 ẩm).
- Bô đựng phân, đồ hốt phân, xà bông, đồ rửa bô.
b. Cách lau
- Lau từ ngoài vào trong theo hình xoắn ốc. Nếu lau phân ướt thì lau bằng tải khô trước.
- Cho trẻ ngồi bô, mỗi trẻ một bô, kê cách nhau một khoảng. Khi trẻ ngồi bô cô phải có mặt, không để trẻ kéo lê bô hoặc móc tay vào bô. Trước khi cho trẻ ngồi bô cô phải cho một ít nước vào bô để phân không dính bô. Khi trẻ đi xong cô phải đậy bô lại hoặc đổ ngay vào cầu tiêu rồi mới rửa cho trẻ. Bô phải được rửa bằng xà phòng, úp lên kệ hoặc phơi nắng. Khi trẻ ngồi bô cô nhắc trẻ không được nói chuyện.
7. Cho trẻ ngủ
a. Chuẩn bị
- Giường (mỗi trẻ 1 cái), chiếu, chăn, màn, gối.
- Trẻ được đi tiêu tiểu trước khi ngủ.
- Không cho trẻ nằm dưới nền nhà.
- Quạt (máy hoặc tay), nếu trời nóng bức đóng các cửa lại.
b. Cho trẻ ngủ
- Cho trẻ nằm ngay ngắn, 1 trẻ 1 gối, buông màn, đắp chăn cho trẻ ngủ (nếu trời lạnh) hoặc quạt cho trẻ lúc trời nóng. Khi trẻ ngủ cô phải thức và có mặt, không được làm việc riêng.
* Chú ý: Phải sửa tư thế ngủ cho trẻ khi trẻ nằm sấp hoặc nằm nghiêng.
- Khi ngủ, nếu có trẻ nào đi tiêu đi tiểu thì cô nhẹ nhàng thay quần áo, tã lót, chiếu và tiếp tục cho trẻ ngủ. Không nói chuyện to hoặc có tiếng động mạnh.
- Nếu trẻ mới đến khóc không chịu ngủ thì cô cho trẻ sang phòng chơi để trẻ chơi và dỗ trẻ. Trẻ nào dậy trước cô cho đi tiểu và vào nhóm chơi.
- Không nên đánh thức hàng loạt trẻ dậy, trẻ nào muốn ngủ nữa vẫn cho ngủ.    
 

Mầm non Template by Ipietoon Cute Blog Design